Luận văn, khóa luận tốt nghiệp, báo cáo là sản phẩm kiến thức, là công trình khoa học đầu tay của sinh viên, đúc kết những kiến thức của cả quá trình nghiên cứu và học tập một chuyên đề Toán học. Tổng hợp các đồ án, khóa luận, tiểu luận, chuyên đề và luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sĩ,... dành cho sinh viên tham khảo. Kho đề tài hay và mới lạ giúp sinh viên chuyên ngành định hướng và lựa chọn cho mình một đề tài phù hợp, thực hiện viết báo cáo luận văn và bảo vệ thành công đồ án của mình.

 

Luật giáo dục năm 2005 tiếp tục xác định “ Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận phải gắng liền với thực tiễn.” Mục tiêu của giáo dục ngày nay là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ để phục vụ đất nước. Do vậy các kiến thức học sinh được học phải gắn liền với thực tế. Chính vì lẽ đó mà các nhà giáo dục đã không ngừng chỉnh sửa cải cách nội dung giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu của xã hội. Đối với môn học xã hội thì các ứng dụng thực tế là rất dễ thấy. Học môn địa lý thì các em có thể hiểu vì sao có các hiện tượng ngày, đêm, mưa , gió. vì vậy rất dễ lôi cuốn sự hứng thú của học sinh. Ngược lại môn toán thì sao? Có lẽ ai đã từng hoc toán, đang học toán đều có suy nghĩ rằng toán học ngoài những phép tính đơn giản như cộng , trừ nhân chia .thì hầu hết các kiến thức toán khác là rất trừu tượng đối với học sinh. Vì vậy việc học toán trở thành một áp lực nặng nề đối với học sinh. Họ nghĩ rằng toán học là mơ hồ xa xôi, học chỉ là học mà thôi. Học sinh học toán chỉ có một mục đích duy nhất đó là thi cử. Hình như ngoài điều đó ra các em không biết học toán để làm gì.Vì vậy họ có quyền nghi ngờ rằng liệu toán học có ứng dụng vào thực tế được không nhỉ? Sự thật là toán học có rất nhiều ứng dụng vào thực tế và nó thể hiện rất rõ trong cuộc sống hằng ngày của con người nhưng chúng ta không để ý mà thôi. Với mục đích giúp cho học sinh thấy rằng toán học là rất gần gũi với cuộc sống xung quanh, hoàn toàn rất thực tế và việc tiếp thu các kiến thức toán ở nhà trường không chỉ để thi cử mà nó còn là những công cụ đắc lực để giúp các em giải quyết các vấn đề, tình huống đơn giản trong thực tế. Chính vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài “ ỨNG DỤNG CỦA TOÁN HỌC PHỔ THÔNG VÀO THỰC TIỄN”

LINK DOWLOAD --  Luận văn ứng dụng của toán học phổ thông vào thực tiễn

Giáo dục Việt Nam đang tập trung đổi mới, hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực và toàn thế giới. Uneco đã đề ra 4 trụ cột của giáo dục trong thế kỉ 21 là học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để khẳng định mình (Learning to knovv, Learning to do, Learning to live togeth er and learning to be). Chính vì thế vai trò của các bài toán có nội dung thực tế trong dạy học toán là không thể không đề cập đến. Vai trò của toán học ngày càng quan trọng và tăng lên không ngừng thể hiện ở sự tiến bộ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội, đặc biệt là với máy tính điện tử, toán học thúc đẩy mạnh mẽ các quá trình tự động hoá trong sản xuất, mở rộng nhanh phạm vi ứng dụng và trở thành công cụ thiết yếu của mọi khoa học. Toán học có vai trò quan trọng như vậy không phải là do ngẫu nhiên mà chính là sự liên hệ thường xuyên với thực tiễn, lấy thực tiễn làm động lực phát triển và là mục tiêu phục vụ cuối cùng. Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn lao động sản xuất của con người và ngược lại toán học là công cụ đắc lực giúp con người chinh phục và khám phá thế giới tự nhiên. Để đáp ứng được sự phát triển của kinh tế, của khoa học khác, của kỹ thuật và sản xuất đòi hỏi phải có con người lao động có hiểu biết có kỹ năng và ý thức vận dụng những thành tựu của toán học trong những điều kiện cụ thể để mang lại hiệu quả lao động thiết thực. Chính vì lẽ đó sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong thời kì đổi mới hiện nay phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng cho HStiềm năng trí tuệ, tự duy sáng tạo, năng lực tìm tòi chiếm lĩnh trí thức, năng lực giải quyết vấn đề, đáp ứng được với thực tế cuộc sống .

LINK DOWLOAD :Tăng cường vận dụng các bài toán có nội dung thực tiễn vào dạy môn toán đại số nâng cao 10 - Thpt

Với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet, thương mại điện tử, thời đại của công nghệ thông tin. Mọi người có cơ hội chia sẽ những ý kiến, quan điểm của mình, đưa các bài đánh giá về các sản phẩm tại các trang web thương mại điện tử và diễn đạt quan điểm của họ trên hầu hết bất kỳ thứ gì ở diễn đàn, nhóm thảo luận và các blog, các tác phẩm văn học mà họ đọc, chúng được gọi chung là nội dung do người dùng tạo ra. Một cá nhân nếu muốn mua một sản phẩm, cá nhân đó không nhất thiết phải giới hạn tham khảo bạn bè và gia đình nữa bởi vì có nhiều người đánh giá sản phẩm trên trang Web đó đưa những ý kiến liên quan đến việc sử dụng sản phẩm. Đây là nguồn thông tin quan trọng, cung cấp cho người mua hàng cái nhìn toàn diện hơn về một sản phẩm mà họ định mua. Còn đối với nhà sản xuất, đánh giá của khách hàng là cơ sở để tiến hành cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình.

LINK DOWNLOAD-- Luận văn Tóm tắt Nghiên cứu thuật toán học máy SVM và ứng dụng trong bài toán khai phá ý kiến phản hồi của khách hàng trên Website

Ở trường phổ thông, dạy toán là dạy hoạt động toán học. Đối với học sinh, có thể xem giải toán là hình thức chủ yếu của hoạt động toán học. Dạy học giải toán có vai trò đặc biệt trong dạy học Toán ở trường phổ thông. Các bài toán là phương tiện có hiệu quả không thể thay thế được trong việc giúp học sinh nắm vững tri thức, phát triển tư duy hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt động giải toán là điều kiện để thực hiện tốt các mục đích dạy học toán. Do đó, tổ chức có hiệu quả việc dạy học giải toán co vai trò quyết định đối với chất lượng giờ dạy học Toán. Tuy nhiên, thực tiễn ở các trường phổ thông cho thấy chất lượng dạy học Toán còn chưa tốt, thể hiện ở năng lực giải toán của học sinh còn hạn chế do học sinh vi phạm nhiều sai lầm về kiến thức, phương pháp toán học. Trong đó, một trong những nguyên nhân quan trọng là giáo viên còn chưa chú ý một cách đúng mức việc phát hiện, tìm ra nguyên nhân và sửa chữa các sai lầm cho học sinh ngay trong các giờ học Toán để từ đó có nhu cầu về nhận thức sai lầm, tìm ra nguyên nhân và những biện pháp hạn chế, sửa chữa kịp thời các sai lầm này, nhằm rèn luyện năng lực giải toán cho học sinh đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học toán trong các trường phổ thông. Với lí do đó, qua việc quản lý và giảng dạy, chúng tôi đề cập tới “Rèn luyện năng lực giải toán cho học sinh thông qua việc phân tích và sửa chữa các sai lầm của học sinh khi giải toán”, nhằm nghiên cứu các sai lầm phổ biến của học sinh phổ thông khi giải toán, đồng thời đề xuất các biện pháp sư phạm để hạn chế và sửa chữa các sai lầm nhằm rèn luyện năng lực giải toán cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường phổ thông. Việc sửa chữa sai lầm là một hoạt động quan trọng, G.Polia cho rằng: “Con người phải biết học ở những sai lầm và thiếu sót của mình, A.A.Stoliar phát biểu: “Không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học các sai lầm của học sinh”, còn theo J.A.Komenxkee thì: “Bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém đi nếu như giáo viên không chú ý ngay đến sai lầm đó, và hướng dẫn học sinh nhận ra, sửa chữa, khắc phục sai lầm”.

LINK DOWNLOAD---- Tiểu luận Rèn luyện năng lực giải   toán cho học sinh THCS thông qua việc phân tích và sửa chữa sai lầm của học sinh khi giải toán

Vật lý là môn khoa hojv thực nghiệm, các định luật, công thức vật lý được xây dựng trên biểu thức toán học cho phù hợp với kết quả thực nghiệm. Để xác định các đại lượng vật lý giải thích sự thay đổi các đại lượng vật lý, giải thích các hiện tượng vật lý nhất thiết phải dùng các công thức toán học như các hàm số cao cấp

LINK DOWNLOAD-- Chuyên đề Một số ứng dụng toán học trong vật lý

Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học công nghệ có những bước tiến nhảy vọt, việc đào tạo những con người không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có năng lực sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với tiềm lực khoa học kĩ thuật của đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khóa VII, 1993) đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục - đào tạo phải huớng vào đào tạo những con người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó mà góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khóa VIII, 1997), tiếp tục khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”. Như vậy, quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học đã khẳng định, cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường THPT là làm cho học sinh học tập tích cực, chủ động, chống lại thó i quen học tập thụ động. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường THPT, việc dạy giải bài tập toán ở trường phổ thông có vai trò quan trọng vì: .Dạy toán ở trường phổ thông là dạy hoạt động toán học

LINK DOWNLOAD-- Luận văn Rèn luyện kỹ năng giải toán cho học sinh bằng phương pháp véctơ trong chương trình hình học 10 (chương I, II - Hình học 10 - Sách giáo khoa nâng cao)

Ở bậc tiểu học môn Toán là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Cũng như môn Toán ở các lớp tiểu học khác, môn Toán lớp 2 có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản, đơn giản thiết thực về toán học, hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành theo yêu cầu của chương trình;giúp học sinh tập phát hiện, tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới theo mức độ của lớp 2, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành Toán. Để học sinh học tốt môn Toán thì mỗi người Giáo viên không chỉ tổ chức hướng dẫn cho học sinh theo các tài liệu sẵn có của Sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng mà còn phải tích cực tìm hiểu, vận dụng đổi mới phương pháp gây hứng thú học toán, kích thích các em tìm tòi, sáng tạo. Trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay người học sinh giữ vai trò trung tâm, chủ động, tích cực, tự giác lĩnh hội tri thức dưới sự tổ chức, định hướng của người thầy; đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở bậc Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Trò chơi học tập là một hoạt động mà các em hứng thú nhất. Các trò chơi có nội dung toán học lý thú và bổ ích phù hợp với việc nhận thức của các em. Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội những tri thức toán học một cách dễ dàng, củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập, trong việc làm. Khi chúng ta đưa ra được các trò chơi toán học một cách thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học môn toán sẽ ngày một nâng cao. Để giúp học tốt môn Toán và gây hứng thú học toán cho học sinh lớp 2 là một việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu môn Toán. Là một giáo viên lớp 2, tôi luôn trăn trở vấn đề là làm thế nào để nâng cao hiệu quả dạy và học môn toán của lớp mình phụ trách đồng thời phải tạo được ở các em sự hứng thú, niềm say mê mỗi khi đến giờ học toán. Do đó tôi đã học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu, tìm tòi vận dụng đổi mới phương pháp dạy học. Từ thực tiễn quá trình dạy học trong những năm qua, tôi đã rút ra “Một số kinh nghiệm gây hứng thú học toán cho HS lớp 2 qua việc tổ chức các trò chơi toán học” để góp một phần nhỏ vào việc thực hiện nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung, nâng cao chất lượng dạy và học toán lớp 2 ở Trường Tiểu học Cẩm Vân nói riêng.

LINK DOWNLOAD -- Đề tài Một số kinh nghiệm gây hứng thú học toán cho HS lớp 2 qua việc tổ chức các trò chơi toán học

Khi nghiên cứu về sự vật, hiện tượng, mỗi chúng ta có những phương pháp nghiên cứu khác nhau dựa vào cách nhìn nhận sự vật hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, dù nhìn nhận sự, vật hiện tượng ở góc độ nào đi nữa, chúng ta cũng cần phải nắm được bản chất của vấn đề. Đó là chìa khóa để chúng ta có những đánh giá chính xác về đối tượng mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tượng đều vận động một cách liên tục, không ngừng. Nếu chúng ta chỉ xét sự vật ở một góc độ riêng lẻ, tức là xem xét đối tượng một cách phiếm diện, một chiều, thì dễ đưa đến những nhận định sai lệch. Điều này rất nguy hiểm, bởi lẽ nó có thể đem lại những thiệt hại lớn trong đời sống, có khi thiệt hại cả về tính mạng, của cải. Vì thế, khi nghiên cứu chúng, ta cần phải có cái nhìn tổng thể, đa chiều để nắm bắt từng đặc tính của sự vật, hiện tượng. Từ đó, tổng hợp nên các đặc tính mang tính bản chất của chúng để có những cái nhìn đúng đắn về chúng. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định điều này thông qua phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật cho ta cách thức đánh giá một sự vật, hiện tượng một cách khoa học, chính xác đang được sử dụng rộng rãi trong khoa học và đời sống hiện nay. Trong tiểu luận này, xin phép được trình bày một nội dung nhỏ trong lĩnh vực Toán học. Đó là: “ vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật vào sáng tạo Toán học”. Toán học là một lĩnh vực khoa học lớn. Để nghiên cứu toán học cũng đòi hỏi nhiều yêu cầu. Trong nội dung tiểu luận này, chỉ xin phép trình bày nội dung ở dạng ví dụ mẫu. Hy vọng sẽ góp phần hữu ích cho đọc giả trong quá trình nghiên cứu Toán học của mình. Do thời lượng có hạn, kiến thức bản thân còn nhiều hạn chế. Vì thế không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong được sự góp ý và chỉ bảo của bạn đọc.

LINK DOWNLOAD-- Đề tài Vận dụng phép duy vật biện chứng vào nghiên cứu toán học

Hiện nay chúng ta đang chứng kiến sựphát triển nhưvũbão của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Với sựra đời của Intemet đã thực sựmởra một kỷ nguyên ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kinh tế,. Trong khung cảnh đó đào tạo và giáo dục được coi là “mảnh đất mầu mỡ” đểcho các ứng dụng của ICT phát triển, điều đó sẽtạo ra những thay đổi sâu sắc trong công nghệ đào tạo và giáo dục. Những công nghệtiên tiến như đa phương tiện, truyền thông băng rộng, CD - ROM, DVD và Intemet sẽmang đến những biến đổi có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu trong lĩnh vực đào tạo, giáo dục do đó sẽdẫn đến những thay đổi trong phương pháp dạy học. Việc ứng dụng công nghệthông tin trong ngành giáo dục đã được Đảng, Nhà nước và BộGiáo dục và Đào tạo đặc biệt quan tâm, đơn cử: + Chỉthịsố58 của BộChính trị, ký ngày 17/10/2000, về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệthông tin phục vụsựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nêu rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ởcác cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từxa phục vụcho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụcho giáo dục và đào tạo, kết nối Intemet tới tất cảcác cơsởgiáo dục và đào tạo". +Quyết định của thủtướng Chính phủSố: 47/2001/QĐ-TTg phê duyệt "Quy hoạch mạng lưới trường đại học,cao đẳng giai đoạn 2001 - 2010" Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 2001 chỉrõ: "Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hoạt động thư viện; hình thành hệthống thưviện điện tửkết nối giữa các trường từng bước kết nối và hệthống thưviện của các trường đại học, thưviện quốc gia của các nước trong khu vực và trên thếgiới. Mởcổng kết nôi Intemet trực tuyến cho hệthống giáo dụi đại học". +Chỉthịsố29 của Bộtrưởng BộGiáo dục và Đào tạo ký ngày 30/7/2001 vềviệc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệthông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005 nêu rõ: "Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệthông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp. phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện đểtiên tới một“xã hội học tập”. Mặt khác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sựphát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân làm cho CNTT” +Chỉthịsố40/CT-TW của Ban chấp hành TW Đảng ra ngày 15/6/2004 vềviệc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũnhà giáo và cán bộquản lý giáo dục đã nêu rõ: Ứng dụng Công nghệthông tin trong dạy học toán "Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệthông tin vào hoạt động dạy và học." Môn toán là một bộmôn vốn dĩcó mỗi liên hệmật thiết với tin học. Toán học chứa đựng nhiều yếu tố đểphục vụnhiệm vụgiáo dục tin học, ngược lại tin học sẽlà một công cụ đắc lực cho quá trình dạy học toán. Với sự hỗ trợcủa MTĐT đặc biệt là của Intemet và các phần mềm dạy học quá trình dạy học toán sẽcó những nét mới chẳng hạn: Giáo viên không còn là kho kiến thức duy nhất. Giáo viên phải thêm một chức năng là tưvấn cho học sinh khai thác một cách tối ưu các nguồn tài nguyên tri thức trên mạng và các CD-ROM. - Tiến trình lên lớp không còn máy móc theo sách giáo khoa hay nhưnội dung các bài giảng truyền thống mà có thểtiến hành theo phương thức linh hoạt. Phát triển cao các hình thức tương tác giao tiếp: học sinh - giáo viên, học sinh - học sinh, học sinh - máy tính,. trong đó chú trọng đến quá trình tìm lời giải, khuyến kích học sinh trao đổi, tranh luận,. từ đó phát triển các năng lực tưduy ởhọc sinh. Nhưvậy với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy thì một trong các biện pháp khảthi là biết kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống và không truyền thống trong đó có sựdựng CNTT nhưmột yếu tốkhông thểtách rời. Với mục tiêu khiêm tốn là cung cấp những thông tin ban đầu đểbạn đọc có thể khai thác các phần mềm toán học vào công việc giảng dạy, học tập của llluul chúng tôi mạnh dạn biên soạn bộtài liệu: Ứng dụng Công nghệthông tin trong dạy học toán. giáo trình gồm: Với nội dung chính " Hướng dẫn sửdụng và khai thác một sốphần mềm phổbiến trong dạy học toán " Đây là một công việc mới mẻvà "quá tải" đối với chúng tôi nên không thểtránh được sai sót. Rất mong được sựtha thứvà đóng góp ý kiến của bạn đọc, đặc biệt là các Thầy, Cô giáo và các em học sinh, sinh viên - đây sẽlà nguồn tưliệu quý giá đểchúng tôi hoàn thiện tài liệu này. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn.

LINK DOWNLOAD-- Giáo trình Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học toán

Đánh giá độtin cậy phần mềm là một vấn đềquan trọng trong việc đánh giá chất lượng của một phần mềm. Quá trình này thường được thực hiện trong các giai đoạn thiết kếphần mềm, kiểm tra lỗi phần mềm. Công việc kiểm tra lỗi phần mềm được triển khai xuyên suốt các giai đoạn phát triển phần mềm, công việc này giúp giảm chi phí và nâng cao chất lượng phần mềm khi triển khai cho khách hàng. Trong thời gian hệthống kiểm tra, việc đo lường độtin cậy phần mềm là tiêu chuẩn quan trọng có tác dụng quyết định có nên công bốphần mềm phần này hay không. Ngoài ra, một vấn đềrất quan trọng quyết định sựthành bại của phần mềm và đang làm đau đầu các nhà quản lý dựán. Đó là làm thếnào đểphân phối chi phí một cách hiệu quảnhằm tạo ra một phần mềm có tính tin cậy cao. Đã có một sốphương pháp giải quyết bài toán được hiện thực theo một sốmô hình toán học. Phương pháp kết hợp quy hoạch nguyên và quy hoạch phi tuyến là một giải pháp hữu hiệu đểgiải quyết vấn đềnày. Đềtài này trình bày một giải pháp toán học đa bước đểphân phối tài nguyên cho độtin cậy phần mềm. Sửdụng quy hoạch nguyên nhịphân đểthực hiện việc phân phối chi phí cho các module mua. Sửdụng quy hoạch phi tuyến đểthực hiệc việc phân phối chi phí cho các module phát triển trong công ty. Thông qua việc kết hợp này, luận văn đã xây dựng được giải pháp cho phép giải quyết bài toán theo hai hướng: tìm độtin cậy lớn nhất có thểcó của phần mềm mà không vượt quá giới hạn chi phí đã cho và ngược lại tìm chi phí nhỏnhất đểphần mềm có độtin cậy là một giá trịxác định trước. Chương trình hiện thực đã cung cấp được một lời giải với độchính xác tương đối cho một sốminh họa cụthể. Từkhoá: Algorithm, Binary Integer Programming, Branch and Bound, Developed module, In-houseIntegration module, Nonlinear programming, Resource allocation, Programming modules, Purchased module, Software reliability.

LINK DOWNLOAD-- Luận văn Một giải pháp toán học cho việc phân phối tài nguyên trong độ tin cậy phần mềm

Ngày nay với sựphát triển mạnh mẽ của CNTTđã khiến cho MTĐTxâm nhập vào trong hầu hết các lĩnh vực củađời sốngcon người. Trong hoạtđộng giáo dục, MTĐT cũng được sửdụng phổbiến trong nhà trường. Mặt khác, dựthảo chiến lược phát triển giáo dục 2011 –2020 đã đềra cho GVnhận thức được rằng: Việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo. Như luật Giáo dục 2005 chương II điều 28 đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổthông phải phát huy tính tích c ực, tựgiác, chủđộng, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm củatừng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tựhọc, khảnăng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năngvận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thu cho HS”. Những quy định này phản ánh nhu cầu đổi mới phương pháp giáo dục để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người mới với thực trạng lạc hậu củaPPDH ởnước ta hiện nay. Sựphát triển của CNTT đã tác động mạnh mẽđến nội dung đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và PPDH toán nói riêng. Hiện nay trên thế giới đã có nhiều phần mềm dạy học toán như Maple, Cbri3D, Geometes’s Sketchpad (GSP), v.v. Các phần mềm này đã góp phần tích cực ứng dụng PPDH hiện đại vàotrongnhà trường nhằm nâng cao hiệu quả của hoạtđộng dạy và học. Nó cho phép người dạy tạo ra môi trườnghọc tậptích cực đểkiến tạo tri thức toán một cách khoa học cho HS. Trong chương trình toán THPThiện nay,kiến thức vềkhối đa diện và mặt tròn xoay là một trong những nội dunggây nhiều khó khăn cho HStrong việc học. Phần lớn GV dạy chủđềnày theo lối truyền thụmộtchiều, thiếu hình ảnh minh họa trực quan nên HS thường gặp khó khăn trong việc nắm bắt khái 5 niệm và các tính chấthình học, cũng như không rèn luyện được tư duy trừu tượng, tư duy không gian. Đối với phần mềmGSP trong nhiều trường THPT vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi. Ưu điểm củaphần mềm này làdễdàngtạo các mô hìnhtrực quan, tạo hoạthình, đo đạc rất thuận lợi trong dạy học hình học không gian. Phần mềm GSP cho phép GV kiến tạo tri thức mới cho HSmột cách dễdàng, qua đó phát triển được tư duy, thái độtích cực học tập và độc lập suy nghĩ của HS. Đểgiải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu đổi mới PPDH và việc dạy chay, dạy học theo lối truyền thụmột chiều; giữa nội dung dạy họcvà nhu cầu hiểu biết của HS; giữa sựtiến bộ củakhoa học công nghệvới PPDH lạc hậu thiếu sự hỗtrợ của CNTT, đã có nhiều công trình nghiên cứu việc sửdụng GSP để dạy học các nội dụng cụthểtrong chương trình hình học ởphổthông, chẳng hạn: “Sửdung máy tính điện tửvới phần mềm The Geometer’s Sketchpad như là công cụđểtrợgiúp dạy toán hình học ởcác lớp cuối cấp bậc trung học cơ sở” [13]; “Sửdụng phần mềm The Geometer’s Sketchpad trong dạy học các phép dời hình và đồng dạng lớp 10” [7]; “Khám phá toán trung học phổ thôngvới phần mềm động hình học 11 thí điểm phân ban”[8]; “Sửdụng phần mềm Geometes’s Sketchpad hỗtrợ HSkhám phá một sốvấn đềtrong phép biến hình trong chương trình hình học lớp 11”[9] v.v.Trong khi đó chưa có tác giảnào nghiên cứu sửdụng phần mềm GSPvào dạy -học nội dung khối đa diện và mặt tròn xoay trong ch ương trình hình học nâng cao 12. Với những lí do trên, với mong muốnnâng cao hiệu quảdạy -học theo hướng hiện đại, tôi chọn đềtài: “Sửdụng phần mềm GEOMETER’S SKETCHPAD trong dạy –học khối đa diện và mặt tròn xoay theo lý thuyết kiến tạo”. Đềtài chỉtập trung nghiên cứu ứngdụng phần mềm GSP kiến tạo tri thức toán cho HStrong nội dung chương I và chương II SGK hình học nâng cao

LINK DOWNLOAD - Luận văn Sử dụng phần mềm GSP để thiết kế bài giảng một số nội dung dạy học về khối đa diện và mặt tròn xoay

(Bản scan) Có bao nhiêu cách sắp xếp 8 quân xe trong bàn cờ 8x8 sao cho không có quân cờ nào bị tấn công. Cây nhị phân chiều cao h có nhiều nhất bao nhiêu nút lá. Trong mặt phẳng cho n đường thẳng đôi một cắt nhau và không có ba đường thắng nào đồng quy, n đường thẳng này chia mặt phẳng thành bao nhiều miền

LINK DOWNLOADChuyên đề Toán học rời rạc phần 2